PHẦN NĂM

CÁC ĐIỀU CẦN NẮM KHI DỰNG GIA PHẢ

MỘT VÀI KINH NGHIỆM

Lý do gì tôi có thể làm gia phả họ Đặng, gia phả bên chồng tôi. Thấy được lợi ích gia phả đối với dòng họ,  với sự nghiệp giáo dục, với lịch sử và đối với xã hội; mong muốn tìm về cội nguồn, tổ quán đã ấp ủ từ lâu. Đọc được bộ gia phả họ Đặng Bàu Sim, thấy chi của mình còn thiếu nên cảm thấy bùi ngùi, áy náy, do đó quyết tâm viết cho được gia phả họ Đặng Thúc Liêng thật hoàn chỉnh

Quá trình chuẩn bị:

Bước 1: Nghiên cứu gia phả đã có.

Bước 2: Sưu tầm và trích lục tư liệu của ông tôi là một nhân sĩ  yêu nước miền Nam ở các thư viên, thông tin trên sách, báo và ở dòng họ.

Bước 3: Nghiên cứu, sấp xếp tư liệu.

Bước 4: Ghi phả hệ.

Bước 5: Nghiên cứu cấu trúc bộ gia phả đã có: Mở đầu – chính phả có phả ký, phả hệ, phả đồ – ngoại phả và phụ khảo.

 

Bắt đầu viết: Viết phả hệ cho hết để nắm qui mô và một số đặc điểm dòng họ (nông dân, viên chức hay doanh nhân). Khi nắm được dòng họ rồi thì tìm tổ quán và viết phả ký. Phải đọc một số phả ký mẫu theo cách hướng dẫn. Viết bài mở đầu. Sắp xếp ngoại phả. Vẽ phả đồ.

Tôi xin trích nêu một số kinh nghiệm:

 

Kinh nghiệm “Tự viết gia phả”: Trước tiên phải viết phả hệ theo từng chi, viết hết chi nầy rồi tới chi khác để khi bà con xem được liên tục. Cần viết kỷ phả hệ để nắm toàn bộ qui mô, đặc điểm dòng họ qua lời kể của bà con. Ta sẽ thấy dòng họ nhỏ hay lớn, đông hay ít người, nhiều chi, nhiều đời không, tài sản, chức vụ thế nào, công nhân, nông dân, vên chức, doanh nhân? Viết phả hệ tức là ghi lại lý lịch, tiểu sử khái quát của nhân vật, quan hệ thế thứ của họ. Ghi lại hết những người trong gia đình,, tới con, cháu…Qua phả hệ, nhiều khi ta biết thêm bà con xa gần, mặt ưu, mặt khuyết từng người.

Trong gia phả Bàu Sim có ba chi. Chi 2 và Chi 3 gia phả trước đã viết, chỉ còn chi 1 là ngành trưởng là ông tôi là chưa có mà chúng tôi cần bổ khuyết: ông thứ 1 Đặng Văn Sơn, ông thứ 2 Đạng Văn Lộc và ông thứ 3 tên Đặng Văn Điểm. Như vậy, chi 1 là ông Đặng Văn Sơn, ông nầy sanh 1 người con là Đặng Văn Duy. Ông Duy sanh ba người con là ông Kim, ông Đặng Thúc Liêng và ông Tồn. Ba tiểu chi phát triển và ghi tiếp. Mỗi nhân vật đều ghi tiểu sử ngăn, gọn nhưng đầy đủ họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, năm mất, tại đâu, nghề nghiệp, học lực, sở thích.

“Kinh nghiệm viết phả ký”: Khi nắm được dòng họ rồi ta tìm tổ quán, hoặc qua lời kể của dòng họ hoặc qua trích lục tư liệu, hoặc qua giấy tờ…và bắt đầu làm dàn bài và viết phả ký. Phải đọc một số phả ký mẫu, viết phần nầy là khó nhất, không phả ký nào giống phả ký nào. Vì thông thương ta không biết dược ông bà  tổ  đời 1. Ta phải tranh thủ khai thác những người lớn tuổi, lắng nghe, cân nhắc. Trước khi viêt phả ký, tôi nghiên cứu lại phả hệ, đọc lại nhiều lần đồng thời nghiên cứu dàn bài của Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả.

Ông bà Tổ đầu tiên và Tổ quán.

Điều kiện nào thì ta làm gia phả được? Có hai điều kiện: biết được vị  tổ đầu tiên và biết được tổ quán. Vị tổ đầu tiên, là ông bà tổ đời 1., là vị nguyên tổ, thỉ (thủy) tổ, khởi tô, trong mối quan hệ tương đối,  mà người trong họ biết được hay trong sách sử, gia phả đề ra Tổ quán là nơi ông tổ đời 1 sinh sống lớn lên cưới vợ và sanh ra con cái. Có thể từ nơi nào đó tới khai cơ lập nghiệp. Dòng họ nào cũng có một ông bà khởi tổ, còn gọi là ông bà thỉ tổ. Trong một chi họ có một ông bà “đời 1”.

Khảo cứu các thành viên trong một họ ta gọi là nghiên cứu về kỷ sự các thành viên đó. Kỷ sự, theo Hán – Việt Từ Điển của Dào Duy Anh là “sách ghi sự thật những sự việc”, có sách khác ghi: “Kể tiểu sử của một người, hay kể sự việc riêng tư hoặc có khi kể tiểu sử của nhiều người”.

Về tiểu sử một người, ta nêu lý lịch người đó từ lúc nhỏ đến nay trong mối quan hệ với dòng họ, cha mẹ, anh em, với xóm ấp,lviệc học hành, lớn lên lao động, làm việc, tham gia cách mạng, chiến đấu. Nói về sở thích, tánh tình, lòng yêu thương mọi người.

Cần quan tâm ghi kỷ sự. hanh trạng, tiểu sử người nông dân với mối quan hệ của họ từ tuổi thiếu thời đến khi chết; với gia đình, lao động, ruộng vườn, là người có tay nghề truyền thống ta cần ghi cho rõ.

Việc viết về tổ quán có liên quan đén việc nghiên cứu địa chí xóm ấp là công việc của gia phả, ta chép về địa dư, phong tục, tập quán, nhân vật, sản vật hoặc địa lý,địa lý lịch sử, văn hóa của xóm ấp; Nói địa phương, tổ quán ấy tác động hình thành nếp sống, thái độ một người và nói người đó đã có những hành động, việc làm gì đối với quê hương xứ sở. Cần  mô tả đình, chùa, bến, chợ ở xóm quê ấy.

Đi điền dã và tiếp xúc với dòng họ 

Viết sử về dòng họ là phải đi tới dòng họ đó, đây là một kinh nghiệm, một nguyên tắc. Có những công việc cơ bản phải làm: gặp những người am hiểu, những người lớn tuổi để hỏi; hỏi để ghi chép đầy đủ khung nhân sự, hỏi hành trạng, tiểu sử càng nhiều người càng tốt, hỏi thứ tự các con, hỏi kỷ niệm của họ đối với một vài người nổi bật, hỏi nội dung, hình thức các ngày giỗ chạp; quan sát bàn thờ tổ tiên, mô tả cách chưng bày thờ phượng, sao chụp hình ảnh, bằng, giấy tờ; đất đai, nhà cửa rộng, hẹp…

Ta phải chuẩn bị nội dung, cách phỏng vấn.

Quan sát mồ mả, theo cách gọi khác nhau giữa ba miền Nam Trung Bắc về khu mộ, hướng quay đầu khi chôn người Việt, người Tiều khác nhau; ghi tên tuổi, năm sanh năm mất trên mộ bia để đối chiếu; gặp chữ Hán, phải dịch ra Quóc ngữ, chụp hình người, mồ mả, nhà cửa…

Gặp những bà dâu, những người phụ nữ, chú ý hỏi kỷ thân phận người phụ nữ trong gia đình. Những bà dâu thường nói những chuyện đặc sắc. Chú ý loại bỏ khuynh hướng đề cao quá mức, những điểm phi lý, mê tín…Phải đi và truy tìm không phải một lần, song sắp xếp kế hoạch đi càng tỉ mỉ thì việc ít tốn công đi lại, đó là kinh nghiệm.

Việc nhận họ 

Ta dựng phả thường là cho từng chi họ. Họ Nguyễn, thực tế là chi họ Nguyễn đó, cha mẹ của ông tổ đời 1 là ai, từ đâu (chi họ miền Nam thường nói “ở miền ngoài, ở Ngũ Quảng vô”). Nếu tìm được gia phả cổ có ghi rõ: từ “Bao Lầy, phủ Tư Nghĩa”, hoặc ghi rõ hơn: thôn ấp, làng xã, huyện nào là ta có thể truy tìm được.

Việc thứ hai là phải ra tới ngoài đó, tìm cho được, thí dụ họ Nguyễn nói trên, hỏi trong họ, trong gia phả (cổ) có ai tên nầy vào Nam và sau cùng ra khu mộ để đọc mộ bia, thẩm tra một số tên người chôn. Phải thẩm tra từ hai phía, từ tổ quán trong nầy và từ nguyên quán ngoài kia, nếu khớp là phải. Có trường hợp ta dựa vào sách sử để kết nối, nếu sách sử chỉ rõ ở hai nơi một cách cụ thể, chính xác. (Trường hợp các dòng họ họp nhứt hiện nay ở các nơi, phải chú ý công việc truy tìm, nhân họ – trước hết phải ghi lại gia phả của chi mình).

Ta còn có việc đổi ngày âm lịch ra dương lịch, cách đổi, đề nghị tra theo sách; công thức truy năm sinh của ông tổ, các chức tước từ các đời vua, học vị ngày xưa; việc xây dựng nhà từ đường, những việc tra cứu từ đinh bạ, địa bạ, lục sổ bộ đời ở Nam bộ. Tất cả là phải tiếp cận với kho lưu trử, thư viện.

Trần Thị Kim Xuyến

 

DỰNG GIA PHẢ CẦN GÌ Ở HÁN – NÔM?

Như ta biết chữ Hán – Nôm hình thành và sử dụng từ lâu trên đất nước ta. Còn chữ Quốc ngữ mới phổ biến hơn trăm năm nay. Nhưng chữ Hán – Nôm đã mai một theo thời gian, chỉ còn trong các kho lưu trữ, đình, chùa, các nhà từ đường, các bằng, sắc, bài vị, mộ bia, các gia phả chữ Hán.

Hiện nay, các nhà nghiên cứu biết Hán – Nôm dần dần ít đi, có trường hợp “người dốt hay nói chữ”, đọc giải thích sai chệch, gây ngộ nhận.

Trong phần việc dựng gia phả có liên quan tới Hán – Nôm: Gia phả, phủ ý viết bằng chữ Hán, bài vị (thần chủ) để ở từ đường, mộ bia chữ Hán khắc trên đá. Theo tập quán, người Việt thường hay dùng chữ Nôm, mà chữ Nôm đọc dễ lầm lẫn chữ nọ thành chữ kia, cho nên phải có sự hợp tác chặt chẽ với người tại chỗ để nhận ra cách phát âm của họ. Biết chữ Hán – Nôm thì cũng đọc được liễn, đối, khám phá được các loại văn tự, khế ước, khoán ước, bút tích cổ xưa bằng Hán – Nôm.

Bài vị, đóng bằng gỗ quí, chạm trổ hoa mỹ, đặt trên bàn thờ, nội dung thí dụ:

Hàng giữa: Đại Nam hiển khảo (tỷ), nguyên hương cả,  đệ tứ hàng chi linh vị tánh Nguyễn húy Phước đệ tứ hàng chi linh vị.

Hàng phải: Ngươn sanh giáp tý niên

Hàng  trái: Tối ư Quý Hợi niên ngũ nguyệt thập lục nhựt, ngọ thời. Hiếu tử Nguyễn Văn Lộc, lập thạch.

  • Bài vị: Khi người lớn tuổi qua đời, trong tang lễ người ta lập ngay một bài vị để trên bàn vong và được thờ trong suốt quá trình tang lễ, cho tới ngày đại tường. Theo tục lệ thì “ngũ đại mai thần chủ”, thì đưa vào giỗ tại nhà thờ tộc. Những bài vị xưa ta còn thấy là do gia đình gởi hậu vào chùa như những lọ cốt, nếu gia đình có nhà từ đường thì đưa vào đây là tốt nhất.
  • Mộ bia:  Hiện nay, đa số mộ bia ghi bằng chữ Việt dễ đọc, dể hiểu nhưng những mộ bia cổ, chữ Hán, nay làm mới ghi chữ Việt dễ bị sai lệch.. Nội dung giống như bài vị nói trên, hàng dưới cùng thì ghi:Nội tôn Nguyễn Văn A, Văn B đồng lập tạch

Bài vị, mộ bia giúp ích cho ta rất nhiều trong việc dựng phả, trong đó tên tuổi, năm sinh, ngày mất, chức vụ lúc sinh thời, tên gọi làng thôn xưa đều ghi rõ. Trong khi dựng phả, chúng tôi đã làm sáng tỏ, hiệu đính, sửa sai rất nhiều cho bà con do không hiểu chữ Hán-Nôm.

Chú ý có mấy trường hợp thường đọc sai: tên bằng chữ Nôm, Rạch Kè thành Rạch Cờ, Bến Nẩy thành Bến Nái, Bến Lầy, Ba Cụm thành Ba Chòm. Tên dân gia dịch ngược ra âm Hán: Bến Nghé thành Ngưu Chữ. Cách chấm câu bị hiểu sai, nhìn lầm mặt chữ, theo phép viết chữ Hán – Nôm.

                                                                    VÕ VĂN SỔ

LỊCH SỬ NAM TIẾN VÀ NHỮNG CUỘC DI DÂN

–          Từ năm 2897 đến năm 2875 trước Công nguyên: nước Văn Lang, họ Hồng Bàng rồi Âu Lạc. Triệu Đà chiếm, khởi đầu Bắc thuộc.

–          Từ năm 76 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 10: Ngô Quyền, 12 Sứ quân, đến triều Đinh (968 – 980), thời kỳ độc lập tự chủ, ranh giới phía Nam giáp Châu Hoan, Hà Tĩnh nay.

–          Năm 992 Lê Đại Hành huy động 3 vạn người vào huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tỉnh, đến châu  Địa Lý của Chiêm. Đây là đường bộ đầu tiên khai thông Bắc – Nam.

–          Năm 1069, vua Lý Thánh Tông vào đánh Chiêm Thành, Chế Củ bị bắt, xin nộp ba châu Bố Chánh, Địa Lý và Ma Linh. Châu Bố Chánh là Nam-Bắc sông Gianh, Quảng Bình nay. Châu Địa Lý nằm giữa Quảng Bình, nay là Lệ Thủy. Châu Ma Linh nằm ở miền Bắc Quảng Trị, nay là Minh Linh, Gio Linh. Liền sau đó vua xuống chiếu chiêu mộ dân vào ở. Hưởng ứng, nhân dân  Nghệ An vào thành họ tộc, lập các xóm thôn như Phan xá, Hoàng xá, Ngô xá, Vũ xá…(xin xem thêm sách “Ô Châu cận lục”)

–          Thời thuộc Minh, từ năm 1407, đất Chiêm Động và Cổ Lủy lại vể lại  với Chiêm Thành, do nhà Minh quản lý.

Từ 1418 đến 1425, Lê Lợi chiếm lại Thuận Hóa. Châu huyện vẫn gọi như trước, nhưng biên cương vẫn không yên ổn.

–          Năm 1471, vua Lê Thánh Tông quyết định thân chinh tiến đánh, vây hảm thành Trà Bàn (Đồ Bàn), bắt sống Trà Toàn và chiếm đất đến Thạch Bi Sơn, đặt ra phủ Hoài Nhơn. Vùng đất mới chiếm nầy đặt tên mới là Thừa Tuyên Quảng Nam, trong đó có ba phủ, phủ Hoài Nhơn có ba huyện là  Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn. Năm 1490, đổi Thừa Tuyên thành xứ.

–          Ngoài việc đất Quảng Bình (Châu Bố Chính) di dân theo kiểu họ tộc, trong huyện Khang Lộc có 72 làng Mai Xá, Chu  Xá, Lỗ Xá, Phan Xá, Bùi Xá, Trương Xá; ở Châu Minh Linh có 65 làng. Số quan quân đi đánh Chiêm cũng được phép ở lại. Lại khuyến khích dân Nghệ An thạo nghề sông biển, dùng thuyền vào khai thác Hòai Nhơn. Đặc biệt lại đưa phần tử tù nhân bị lưu đày, chia làm 3 bậc đi 3 nơi: lưu cận châu đi Nghê An, Hà tỉnh; lưu ngoại châu, đi Châu Bố Chánh; lưu viễn châu đi Quảng Bình

–          Từ  năm 1474, có đất Thăng Hoa, việc lưu đày được sửa đổi: lưu cận châu, đi Thăng Hoa; lưu ngoại châu đi Tư Nghĩa; lưu viễn châu, đi Hoài Nhơn.

–          Cuộc di dân thời Lê là quan trọng, người Chăm không chỗ lùi phải sống chung với người Việt, cuộc sống của dân mới yên ổn làm ăn.

–          Từ năm 1558 – 1613, Nguyễn Hoàng  theo sấm Trạng Trình: “Hoành sơn nhất đái vạn đâi dung thân” đã vào Thuận Hóa.

–          Khi Đoan quận công vào xây thành Ái Tử,  đoàn tùy tùng theo ông khá đông, gồm những nhà quyền quý ở Tống Sơn, nghĩa dõng ở Thanh Hóa, Nghệ An và khá đông kiến họ ngoại của Chúa cũng theo vào.

–          Nguyễn Hoàng đánh nhau với tướng nhà Mạc là Lập Bạo. Lập Bạo bị giết, quân sĩ đầu hàng, Chúa cho ở lại đất Cồn Tiên lập lên 36 phường.

–          Năm 1611, quân Chiêm Thành ra đánh biên giới Hoài Nhơn, Chúa đem binh đánh trả, chiếm luôn đất Phú Yên, lập hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa.

–          Năm 1648 – 1687 Nguyễn Phúc Tần, chiến tranh Trịnh – Nguyễn nổ ra, trong 46 năm 7 lần đánh nhau, lần thứ 5, quân Nguyễn đánh ra chiếm 7 huyện của Nghệ An suốt 5 năm, khi rút về dắt theo 3 vạn quân dân đàng ngoài, đưa vào an trí khai hoang vùng Quảng Nam cho đến Phú Yên. Lần nầy có họ Hồ ở Hưng Nguyên (Nghệ An) đưa vào An Khê. Đây là Tổ tiên của ba anh em nhà Tây Sơn.

–          Năm 1672, Trịnh Nguyễn đánh nhau lần cuối, không phân thắng bại, hai bên lấy sông Gianh làm giới tuyến, từ đó Nam Hà tách khỏi ảnh hưởng nhà Lê, hình thành một trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế mới là Tri Thiên – Huế.

–          Từ năm 1691 – 1725, chúa Nguyễn Phúc Chu 3 lần mở rộng lảnh thổ về phía Nam:

  1. Năm 1693 lấy nốt đất Phan Rang, Phan Thiết của Chiêm Thành.
  2. Năm 1698, họp thức hóa hai vùng Đồng Nai và Bến Nghé của Thủy Chân Lạp, lâp ra Gia Định, với hai huyện Phước Long và Tân Bình và di dân miền Ngũ Quảng vào khai thác. Đó là vùng đất miền Đông Nam bô ngày nay.
  3. Năm 1714, tiếp nhận vùng đất Hà Tiên do Mạc Cửu dâng cho chúa Nguyễn, gồm An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.

–          Sau đó, Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh can thiệp vào cuộc động binh giữa Xiêm La, Cao Miên và họ Mạc Cửu ở Hà Tiên, để tiếp quản nốt vùng  Tầm Đôn- Lôi Lạp – Tầm Phong Long vào bản đồ Việt Nam.

–          Trong những lần vào Nam, Tây sơn bỏ ngũ lại, Nguyễn Ánh lên ngôi đã hợp thức hóa cho số người nầy, tiếp đó là tiếp nhận số “phản Thanh phục Minh”

–          Năm 1954,  Nam bộ có thêm dân miền Bắc di cư.

–          Sau năm 1975 số cán bộ, chiến sĩ; số người thiên cư từ miền Bắc vào khá đông.

VÕ VĂN SỔ

                                    Tập hợp từ các tư liệu lịch sử

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *